Thứ Bảy, ngày 15 tháng 9 năm 2012

VÒNG TRƯỜNG SINH TRONG PHONG THỦY





   Vòng Trường Sinh trong Phong Thủy được dùng vào việc xem xét cuộc đất, định vị giếng nước vv. Cách an Vòng Trường Sinh trong Phong Thủy gồm 3 bước như sau:

A/ Định ÂM/DƯƠNG cho cuộc đất:
Đứng ở giữa cuộc đất mà xem dòng nước chảy, nếu nước chảy từ TRÁI sang PHẢI thì cuộc đất thuộc DƯƠNG, ngược lại nếu nước chảy từ PHẢI sang TRÁI thì cuộc đất thuộc ÂM.

B/ Định HÀNH CỤC cho cuộc đất:
Nhìn xem dòng nước chảy về phương nào, PHƯƠNG nước chảy về đâu chính là phương MỘ. Cuộc đất có Hành Cục như sau:

+ Dòng nước chảy về phương nằm giữa khoảng từ CHÍNH BẮC đến ĐÔNG BẮC THIÊN ĐÔNG thì Mộ Khố là Sửu (Đông Bắc Thiên Bắc) và cuộc đất thuộc KIM CỤC Tỵ - Dậu - Sửu.

+ Dòng nước chảy về phương nằm giữa khoảng từ CHÍNH ĐÔNG đến ĐÔNG NAM THIÊN NAM thì Mộ Khố là Thìn (Đông Nam Thiên Đông) và cuộc đất thuộc THỦY CỤC Thân - Tí - Thìn.

+ Dòng nước chảy về phương nằm giữa khoảng từ CHÍNH NAM đến TÂY NAM THIÊN TÂY thì Mộ Khố là Mùi (Tây Nam Thiên Nam) và cuộc đất thuộc MỘC CỤC Hợi - Mão - Mùi.

+ Dòng nước chảy về phương nằm giữa khoảng từ CHÍNH TÂY đến TÂY BẮC THIÊN BẮC thì Mộ Khố là Tuất (Tây Bắc Thiên Tây) và cuộc đất thuộc HỎA CỤC Dần - Ngọ - Tuất.
* Lưu ý: Hành Cục của cuộc đất không có Thổ Cục.

C/ Lập VÒNG TRƯỜNG SINH cho cuộc đất:
Vị trí khởi và chiều vòng trường sinh của cuộc đất tùy thuộc vào Hành Cục và tính Âm/Dương của cuộc đất:

1/ Kim Cục:
Dương Kim: Trường Sinh tại Tỵ. Đế Vượng tại Dậu. Mộ tại Sửu.
Âm Kim: Trường Sinh tại Dậu. Đế Vượng tại Tỵ. Mộ tại Sửu.

2/ Thủy Cục:
Dương Thủy: Trường Sinh tại Thân. Đế Vượng tại Tí. Mộ tại Thìn.
Âm Thủy: Trường Sinh tại Tí. Đế Vượng tại Thân. Mộ tại Thìn.

3/ Mộc Cục:
Dương Mộc: Trường Sinh tại Hợi. Đế Vượng tại Mão. Mộ tại Mùi.
Âm Mộc: Trường Sinh tại Mão. Đế Vượng tại Hợi. Mộ tại Mùi.

4/ Hoả Cục:
Dương Hoả: Trường Sinh tại Dần. Đế Vượng tại Ngọ. Mộ tại Tuất.
Âm Hoả: Trường Sinh tại Ngọ. Đế Vượng tại Dần. Mộ tại Tuất.

  • Lưu ý:
    + Vị trí Mộ của cuộc đất (dù Dương hay Âm) luôn nằm ở phương Tứ Mộ
                                                      
  • Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi)

    + Cuộc đất thuộc Dương có Vòng Trường Sinh đi THUẬN (chiều kim đồng hồ)

    + Cuộc đất thuộc Âm có Vòng Trường Sinh đi NGHỊCH và vị trí khởi Trường Sinh như là ứng với vị trí Đế Vượng của cuộc đất Dương có cùng Hành Cục (Hai cuộc đất Dương và Âm có 2 vị trí tương ứng khởi Trường Sinh như là đối xứng nhau qua dòng nước chảy, đồng thời hai Vòng trường sinh này xoay ngược chiều nhau)

    *Vài nhận xét về các VTS:

    + VTS trong Phong Thủy cũng có 2 chiều thuận/nghịch giống như Vòng trường sinh trong Tử Vi (theo cách cũ). Khác nhau là Vòng trương sinh trong Phong Thủy không có xem xét hành Thổ. Và khác nhau về vị trí khởi Trường Sinh cho vòng Nghịch của cuộc đất thuộc Âm để vị trí Mộ (cũng là Mộ của dòng nước) luôn ở phương Tứ Mộ.

    + Khác với Vòng trường sinh trong Tử Vi và trong Phong Thủy, Vòng trường sinh trong Bói Dịch chỉ có 1 chiều thuận. Lý do là vì Vòng trường sinh trong Bói Dịch áp dụng lên chu kỳ ngày, tháng , thời tiết...nghĩa là áp dụng lên chu kỳ của thời gian. Mà thời gian thì đơn tính và trôi đi thuận chiều từ quá khứ đến tương lai.

    Ứng dụng Vòng Trường Sinh Phong Thủy khi chọn vị trí làm giếng nước:

    Vị trí tốt nhất cho giếng nước là ở các vị trí:
    Trường Sinh
    Đế Vượng
    Dưỡng
    Thuỷ pháp :
     Có 4 cục Kim Mộc Thủy Hỏa Cục
     Mổi Cuộc Long có 6 huyệt :
     Chính Sinh
     Chính Vượng
     Tự Sinh
     Tự Vượng
     Mộ hướng
     Dưỡng Hướng

- Mỗi cục long đều có nước từ đâu đến Minh Đường và từ Minh Đường chảy đi la thuỷ khẩu
- Nước chiều đồng hồ là thuận, ngược kim đồng hồ là nghịch
- Chính sinh của các cục Long đều giống nhau, duy chỉ có hướng và thuỷ khẩu khác nhạu Chính vượng, tự sinh, tự vượng và mộ dưỡng cũng vậy
HOẢ CUỘC LONG- CHÍNH SINH HƯỚNG
Dần Ngọ Tuất Tam hợp)
Thuỷ tiêu Tân Tuất- Chính Mộ khố

  Trên vòng tròn 360 o vị trí vòng Tràng Sinh:
 Giòng thuỷ lưu Khởi từ Bính Ngọ nghịch chiều kim dồng hồ dến      Tân Tuất, vị trí Tràng Sinh ở Cấn Dần

  Tràng Sinh Mộc Dục Quan Đới Lâm Quan Đế Vượng Suy
Cấn Dần Giáp Mão Ất Thìn Tốn Tỵ Bính Ngọ Đinh Mùi
Bệnh Tử Mộ Tuyệt Thai Dưỡng
Khôn Thân Canh Dậu Tân Tuất Càn Hợi Nhâm Tý Quý Sửu

Huyệt 1 của 6 huyệt thuộc Hoả Cuộc long (vượng, phú quí , bền lâu):
Vượng khứ nghinh sinh , chính sinh hướng
Cục thế tả toàn long thụ hữu toàn thuỷ
Lập toạ Khôn hướng Cấn kiêm Dần 3 phân . Trước phải thu Bính Ngọ Đế Vượng thuỷ, tự sau vai bên hửu vào Minh Đường, thu Tốn Tỵ Lâm Quan thuỷ, thu Ất Thìn Quan Đới thuỷ vào Minh Đường rồi dến Giáp Mão quí nhân thuỷ rồi thu Cấn Dần (cung này la hướng thượng bản vị) Tràng Sinh thuỷ đem lại minh đường vòng sang bên tả tiêu ra Tân là Mộ khố .
   Dòng thuỷ lưu Khởi từ Cấn Dần (Tràng Sinh ) thuận chiều kim đồng hồ dến Tân Tuất, vị trí Đế Vượng ở Bính Ngọ
Tràng Sinh...Mộc Dục...Quan Đới...Lâm Quan...
Đế Vượng...Suy
Cấn Dần......Giáp Mão...Ất Thìn.....Tốn Tỵ........Bính Ngọ....
Đinh Mùi
Bệnh...........Tử..............Mộ........... Tuyệt.........Thai...........Dưỡng
Khôn Thân...Canh Dậu...Tân Tuất...Càn Hợi......Nhâm Tý....Quý Sửu
Huyệt thứ 2 (của 6 huyệt thuộc Hoả Cuộc) : Chính Vượng hướng (nếu được long chắn huyệt thì vượng thịnh, phát tài , bền lâu)
Sinh lai hội Vượng , chính vượng hướng

Cục thế hửu toàn long thu tả toàn thuỷ
(Nhìn về Sơn để phân định Tả toàn, Hữu toàn tức lối đi vào nhà)
Lập toạ Nhâm hướng Bính kiêm Ngọ 3 phân nghinh lộc.
Lập toạ Tý hướng Ngọ kiêm Bính 3 phân tá lộc.
Trước phải thu nước bên tả Cấn Dần, Tràng Sinh thuỷ , Giáp Mão quí nhân thuỷ , Ất Thìn Quan Đới thủy, Tốn Tỵ Lâm Quan thuỷ, vào Minh Đường rồi thu Bính Ngọ (cung này là hướng thượng bản vị) thuỷ vào minh đường rồi thoát thủy tiêu ra Tân (Mộ) khố chảy đi
dòng thuỷ lưu Khởi từ Giáp Mão(Mộc Duc) nghich chiều kim đồng hồ đến Tân Tuất, vị trí TUYỆT ở Càn Hợi
Tràng Sinh...Mộc Dục...Quan Đới...Lâm Quan... Đế Vượng...Suy
Cấn Dần......Giáp Mão...Ất Thìn.....Tốn Tỵ........Bính Ngọ....Dinh Mùi
Bệnh...........Tử..............Mộ........... Tuyệt.........Thai...........Dưỡng
Khôn Thân...Canh Dậu...Tân Tuất...Càn Hợi......Nhâm Tý....Quý Sửu

Huyệt thứ 3 (của 6 huyệt thuộc Hoả Cuộc) :
(phát rất mau, nhân đinh nhiều, phú qúy lớn)
Đây là phép biến Cục, tá khố tiêu thủy, tự sinh hướng
Cục thế tả toàn long thu hửu toàn thuỷ
Lập toạ Tị hướng Hợi kiêm Kiền 3 phân.
Lập toạ Tốn hướng Kiền kiêm Hợi 3 phân .
Nước từ bên hữu đổ sang bên tả , lấy cung Kiền cung Hợi ngay vị trí chữ TUYỆT khởi Tràng Sinh nghĩa là tự mình hướng thượng khởi Tràng Sinh cho mình, đây gọi là Tuyệt xứ phùng sinh (ngay cung tuyệt gặp Tràng Sinh) .
Trước phải thu Giáp Mão là Đế Vượng thuỷ (theo vòng Tràng Sinh khởi ở Tuyệt cung Càn , cung Hợi). Cấn Dần là Lâm Quan thuỷ, Qúi Sữu là Quan Đới thủy, Nhâm Tí là quí nhân thuỷ rồi thu Càn Hợi là Tràng Sinh thuỷ (cung này là hướng thượng bản vị) vào minh đường . Phép này gọi là Tá khố tiêu nạp (mượn khố tiêu thủy khẩu) .

                                                           
HOẢ CUỘC LONG- TỰ VƯỢNG HƯỚNG
(Dần Ngọ Tuất Tam hợp)
Thuỷ tiêu Tân Tuất- Chính Mộ khố
Dòng thuỷ lưu Khởi từ Tốn Tỵ (Lâm Quan) thuận chiều kim đồng hồ đến Tân Tuất.
Tràng Sinh...Mộc Dục...Quan Đới...Lâm Quan...
Đế Vượng...Suy
Cấn Dần......Giáp Mão...Ất Thìn.....Tốn Tỵ........Bính Ngọ....
Đinh Mùi
                                               Bệnh.............Tử...............Mộ............Tuyệt..........Thai...........Dưỡng Khôn Thân...Canh Dậu...Tân Tuất...Càn Hợi......Nhâm Tý....Quý Sửu

Huyệt thứ 4 (của 6 huyệt thuộc Hoả Cuộc) :
(phát phú rất mau, nhân đinh tài qúi, phú qúi lớn)

Dây là phép biến Cục, tá khố tiêu thủy, tự vượng hướng (tức là lối biến cục hóa Tử vi Vượng)
Cục thế hửu toàn long thu tả toàn thuỷ

Lập toạ Giáp, hướng Canh kiêm Dậu 3 phân, nghinh lộc .
Lập toạ Mão, hướng Dậu, kiêm Canh 3 phân, tá lộc .

   Nước từ bên tả đổ sang bên hửu , lấy cung Canh Dậu ngay vị trí chữ TỬ hóa thành chữ Vượng đây là tự mình khởi lấy vượng hướng thượng.
Nếu Vượng ở cung Dậu thì Tràng Sinh phải ở cung Tỵ (Tốn Tỵ), Tốn Tỵ là Tràng Sinh thủy, Bính Ngọ là quí nhân thủy, Đinh Mùi là Quan Đới thủy, Khôn Thân là Lâm Quan thuỷ rồi dến Canh Dậu là Đế -Vượng vượng thủy (cung này là hướng thượng bản vị) vào minh đường rồi tiêu ra chữ Tân là Mộ khố, cứ tính như phép tá cục tiêu thủy này thì vượng tá cục, Tân Tuất là Suy nên gọi là Tá Suy phương xuất thủy (mượn phương suy cho nước tiêu ra) .

   Bốn huyệt trên phải tiêu thuỷ ra chính Mộ khố mới được lập hướng. Bốn hướng là :
Chính Sinh
Chính Vượng
Tự Sinh
Tự Vượng
Công thức này là Dần Ngọ Tuất Tam hợp, tức như Cấn Bính, Tân (Sinh Vượng Mộ), lấy âm dương phối hợp làm cục.

   Tuy biến cục tá khố tiêu thủy nhưng phải tiêu nạp (thu thủy và tiêu thủy) đúng với công thức của nó mới được lập hướng, ngoại trừ không được những hướng khác với bốn công thức trên, nếu thấy thủy đã tiêu ra Tân khố .

   Nói chung cứ phải từ từ, biết đến đâu thì làm đến đó. Thực tế xét cho được cách cục rất khó xác định (nếu ở cánh đồng thì còn dễ, còn ở chổ đã tôn tạo thì gặp khó khăn, Long mạch đi về hướng nào v.v.)

                                                                                                           Phong Thủy gia Trạch Bằng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét