YẾU TỐ THEN CHỐT TRONG TẦM LONG
YẾU TỐ THEN CHỐT TRONG TẦM LONG
Sao trời chiếu xuống, mặt đất thành
hình
***
Hệ Từ
Thượng trong Kinh Dịch đúc kết: "Tại thiên thành tượng, tại địa thành
hình, biến hóa kiến hĩ" (Trên trời thành hình tượng, dưới đất thành hình
thể, biến hóa hiện rõ ở đó). Trong thuật Địa lý Phong thủy, câu chân ngôn này
chính là cương lĩnh bất di bất dịch của phép Tầm Long.
Địa khí dưới đất không tự nhiên sinh ra một cách hỗn độn, mà chuyển động và ngưng tụ tương ứng với thiên thể tinh tú. Muốn thấu triệt long mạch trên mặt đất, người hành nghề phong thủy buộc phải nhìn thấu dấu ấn của các vì sao giáng thế.
1/. BẢN NGUYÊN: MỐI TƯƠNG GIAO THIÊN - ĐỊA
TRONG CỬU TINH TẦM LONG
Khí của trời giáng xuống, khí của đất bốc lên. Đất mượn khí trời để đắp
thành núi đồi, sông ngòi; trời mượn đất để hiển thị quy luật vạn vật.
Trong hệ thống Phong thủy Loan đầu thực chứng (đặc biệt theo truyền thừa của Tiên sư Dương Quân Tùng qua Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh), hình thể núi non trên mặt đất quy về chín dạng hình thái tương ứng với chòm sao Bắc Đẩu (Cửu Tinh):
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Tham Lang
Ngũ hành: Mộc
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh nhọn
thẳng, thân đứng vững chãi như cây măng tre mọc vút
Đặc tính khí hóa: Sinh khí dồi dào, phát
văn chương, khoa bảng, quan chức
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Cự Môn
Ngũ hành: Thổ
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh bằng
phẳng, vách dựng vuông vức như cái hòm, chiếc bàn
Đặc tính khí hóa: Phú quý đôn hậu, tích
lũy tài điền, phúc thọ miên trường
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Lộc Tồn
Ngũ hành: Thổ pha Kim/Mộc
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đầu tròn dẹt
nhưng chân xẻ rãnh, mang nhiều nhánh tơ gãy (tiết lộc)
Đặc tính khí hóa: Tính hung nhiều hơn
cát, cần bác hoán triệt để mới dụng được
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Văn Khúc
Ngũ hành: Thủy
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Dáng uốn
lượn liên miên như làn sóng, thân mềm mại
Đặc tính khí hóa: Linh hoạt, chủ về đào
hoa, nghệ thuật, khéo léo nhưng dễ trôi nổi
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Liêm Trinh
Ngũ hành: Hỏa
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh nhọn
lởm chởm, đá tai mèo, sắc đỏ hung hãn hiểm trở
Đặc tính khí hóa: Hỏa viêm thượng, thường
làm Thái Tổ Sơn (nguồn phát khởi long mạch)
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Vũ Khúc
Ngũ hành: Kim
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh tròn
trịa, thân đầy đặn, chuông úp, nồi úp hoàn mỹ
Đặc tính khí hóa: Đại phú đại quý, chủ về
quyền uy quân sự, tài chính vững chắc
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Phá Quân
Ngũ hành: Kim hung
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh gãy
khúc, sườn dốc đứng lở loét, phía sau kéo cờ đuôi nheo
Đặc tính khí hóa: Cực kỳ hung bạo, sát khí nặng, chủ hao tán binh bại
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Tả Phụ
Ngũ hành: Kim/Thổ đới
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Đỉnh bằng
hơi lõm nhẹ hai bên hoặc hình cánh bướm, mũ quan
Đặc tính khí hóa: Hộ vệ đắc lực, thuần hậu,
tăng cường uy quyền cho chính long
TINH ĐẨU (SAO TRỜI): Hữu Bật
Ngũ hành: Thủy/vô hình
Hình thái Loan đầu (Mặt đất): Dáng ẩn
tàng, mạch đi thoang thoảng sát đất như sợi tơ, vệt nước
Đặc tính khí hóa: Bí hiểm, cơ động, chuyển mạch và hộ tống tụ khí
2/. YẾU TỐ THEN CHỐT: QUÁ TRÌNH
"BÁC HOÁN" - TỪ THÔ BẠO THÀNH TÚ KHÍ
Sao trời chiếu xuống; không có
nghĩa là ngọn núi nào mang hình sao hung cũng bị phế bỏ. Trái lại, một đại long
mạch chân chính xuất sơn hầu như đều khởi nguồn từ những vì sao hung dữ bậc nhất.
-
Thái Tổ sơn xuất
phát từ Liêm Trinh (Hỏa tinh): Núi tổ thường cao ngất trời mây, vách đá dựng đứng,
mang đầy sát khí. Đó là lúc thiên khí mới sơ khai giáng xuống đất mẹ, năng lượng
còn thô bạo, cương liệt.
-
Quy luật Bác hoán
(Lột xác thoái sát): Long mạch di chuyển từ hàng chục đến hàng trăm cây số. Từ
Hỏa tinh (Liêm Trinh) chuyển hóa sang Thổ tinh (Cự Môn/Lộc Tồn), qua Kim tinh
(Vũ Khúc), uốn lượn mềm mại thành Thủy tinh (Văn Khúc) và đâm chồi thành Mộc
tinh (Tham Lang).
- Điểm cốt tử: Tầm long là theo dõi xem long mạch đã
"thoái sát" (trút bỏ hết vẻ lởm chởm, gồ ghề, sát khí) để hóa thành
thân thể tròn trịa, đôn hậu, thanh tú hay chưa. Nếu long chưa bác hoán mà đã vội
kết huyệt, gia chủ ắt rước họa sát thân.
3/. NHẬN DIỆN CHÂN LONG KHI NHẬP THỦ
THÀNH HÌNH
Khi mạch đi đến hồi kết thúc để kết tụ
huyệt trường, "hình tượng đất" phải hội đủ ba chuẩn mực nghiêm ngặt:
-
Thân hình thuần
túy, không tạp khí: Đỉnh núi nhập thủ thuộc tinh nào phải giữ trọn vẹn đặc tính
của tinh đó. Mộc tinh phải xanh tươi, vút thẳng; Kim tinh phải tròn đầy, không
bị sạt lở hay lõm khuyết.
-
Sa thủy triều củng
(Thiên la địa võng che chắn): Long đi ắt có "tùy tùng". Hai bên Thanh
Long, Bạch Hổ phải bao bọc ôm lấy huyệt; phía trước có Chu Tước triều bái hoặc
án sơn chắn gió; Thủy tụ trước minh đường. Gió tụ, khí dừng thì hình thể trên mặt
đất mới hoàn bị.
-
Thúc khí và Khởi
đỉnh: Trước khi nhập huyệt, mạch thường thắt lại rất nhỏ hẹp (qua hẻm núi, đồng
bằng) rồi bất ngờ phồng to, nhô lên thành một gò đất tròn đầy (Thiếu Tổ hoặc
Huyền Vũ). Đây là dấu hiệu tinh tú trên trời đã hội tụ toàn bộ linh khí vào một
tấc đất bên dưới.
4/. TRIẾT LÝ ỨNG DỤNG THỰC TẾ
-
Không câu nệ hình
thức tĩnh: "Mặt đất thành hình" không phải chỉ là những ngọn núi đá sừng
sững. Tại vùng đồng bằng (Bình dương long), một gờ đất cao hơn vài tấc là Sơn,
một rãnh nước nông thoang thoảng là Thủy. Vô hình nhưng hữu khí, đó chính là
hình thái biến thể của Hữu Bật và Thủy tinh.
-
Tâm pháp người
hành nghề: Tầm long đòi hỏi đôi mắt quan sát đại cục (nhìn sao nhận hình thế từ
xa) kết hợp đôi chân lội suối trèo đèo để thẩm định chất đất, hướng chảy của
dòng nước và sắc thái cỏ cây. Nơi nào sinh khí ngưng đọng, nơi đó cỏ cây tốt
tươi, thớ đất mịn màng (ngũ sắc), phong tàng khí tụ.
Nhìn thấu hình tướng tinh tú trên bầu trời để giải mã từng đường gân, thớ
thịt của núi sông dưới mặt đất chính là chìa khóa mở ra cánh cửa chân truyền của
Phong thủy Địa lý: Thuận thiên thời, tích địa lợi, tạo nhân hòa.
***
Phong Thủy
Sư TRẠCH BẰNG – Đt: 0932153031 - Ảnh st.

Nhận xét
Đăng nhận xét