TÍNH LONG VẬN THEO CÁC NĂM TRONG VIỆC TU SỬA, XÂY CẤT NHÀ CỬA HAY PHẦN MỘ

 

TÍNH LONG VẬN THEO CÁC NĂM TRONG VIỆC TU SỬA, XÂY CẤT NHÀ CỬA HAY PHẦN MỘ

***

Trong thuật phong thủy cổ truyền, câu khẩu quyết kinh điển luôn răn dạy: "Nhất vị, nhị hướng, tam vận, tứ nhật khóa". Khi khởi công động thổ xây cất, sửa chữa nhà cửa (Dương trạch) hay cải táng, tu bổ mồ mả (Âm trạch), đa phần đại chúng thường quá chú trọng vào việc chọn tuổi gia chủ (xét Kim Lâu, Hoang Ốc, Tam Tai) mà bỏ qua nguyên lý cốt tủy: Khí mạch của cuộc đất. Trong đó, phép tính Long Vận theo lưu niên chính là then chốt quyết định cuộc đất ấy trong năm hành sự có được thiên thời, địa khí ủng hộ hay phạm phải suy thoái, hưu tù.

I/. CỐT LÕI CỦA LONG VẬN: VÌ SAO PHẢI KHÁN LONG TRƯỚC KHI PHẠT MỘC, ĐỘNG THỔ

+ Gốc của khí mạch: "Địa dĩ tích khí vi bản, khí do long hành". Nhà hay mộ tựa như thân cây, còn mạch đất (Long) là rễ cây. Nếu năm đó Long suy thoái, nhập tù hoặc tử khí bế tắc mà ta tác động xẻ rãnh, đào móng, chôn cất, chẳng khác nào tưới nước độc vào rễ, họa phát khôn lường.

+ Tôn ti giữa Người và Đất: Đất là chủ, người là khách. Đất gặp vận vượng, đắc Long thì người ở dù tuổi có chút xung khắc vẫn có thể "mượn tuổi" hoặc dùng nhật khóa hóa giải. Ngược lại, nếu Long suy tuyệt, đất phạm đại sát mà tuổi người tốt đến đâu thì sau khi cất nóc, nhập trạch cũng khó tránh suy vi.

II/. CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH LONG VẬN LƯU NIÊN THỰC CHỨNG

Tùy theo trường phái thực hành (Tam Hợp, Tam Nguyên Cửu Vận hay Huyền Không Đại Quái), việc định Long Vận được triển khai theo các lớp nhận thức mạch lạc:

1/. PHƯƠNG PHÁP TAM HỢP LONG VẬN (TRÀNG SINH THẬP NHỊ THẦN)

Xét theo phương vị Lai Long (hướng rồng đến) phối với Địa Chi của năm dự định khởi công:

+ Định cuộc cho Long mạch: Căn cứ tọa độ Long nhập thủ thuộc Tứ đại cục (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim):

-      Hỏa cục: Dần - Ngọ - Tuất (Khởi Trường Sinh tại Dần).

-      Thủy cục: Thân - Tý - Thìn (Khởi Trường Sinh tại Thân).

-      Kim cục: Tỵ - Dậu - Sửu (Khởi Trường Sinh tại Tỵ).

-      Mộc cục: Hợi - Mão - Mùi (Khởi Trường Sinh tại Hợi).

+ Khán vận từng năm:

-      Năm rơi vào các cung Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng: Long khí đang thịnh vượng, đắc vận sinh trưởng, rất tốt cho động thổ xây cất, hạ huyệt, an táng.

-      Năm rơi vào Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng: Long khí hưu tù, suy bại hoặc ẩn phục. Tuyệt đối kỵ động thổ lớn vào năm Long lâm Tử - Tuyệt, dễ dẫn đến hao tổn nhân đinh, bệnh tật triền miên.

2/. KHÁN THẦN SÁT LƯU NIÊN GIÁNG LÂM LAI LONG VÀ SƠN TỌA

Dù long nhập cục vượng, vẫn phải soát các đại sát tinh lưu niên đóng trên trục lai long và Tọa Sơn:

+ Tam Sát (Kiếp Sát, Tai Sát, Tuế Sát): Phương vị Tam Sát theo năm tuyệt đối kỵ động thổ ở phương Tọa hoặc phương Lai Long (nguyên tắc: Tam Sát khả hướng bất khả tọa).

+ Thái Tuế & Tuế Phá: Năm có Chi trùng với phương Long/Tọa (Thái Tuế) hoặc đối xung trực tiếp (Tuế Phá) đều đòi hỏi phép an tĩnh; chấn động mạnh tại đây dễ kích hoạt hung khí.

+ Ngũ Hoàng Mậu Kỷ & Mậu Kỷ Đô Thiên Sát: Đại sát tinh hàng năm chiếu đến phương nào thì phương đó cần tránh đào bới, chặt cây lớn, phá dỡ tường móng.

3/. PHƯƠNG PHÁP TAM NGUYÊN CỬU VẬN & HUYỀN KHÔNG ĐẠI QUÁI

+ Chính Thần - Linh Thần: Trong nguyên vận hiện tại, việc xác định phương vị Lai Long (địa hình cao ráo, dẫn khí) có đắc Chính Thần để nạp vượng khí hay không là tiền đề. Nếu Long mạch rơi vào phương thoái khí của nguyên vận, kết hợp lưu niên phi tinh có Ngũ Hoàng (sao số 5) hoặc Nhị Hắc (sao số 2) đáo chiếu, việc tu tạo sẽ kích hoạt bệnh tật, tai ách gia đạo.

III/. KHÁC BIỆT CỐT YẾU GIỮA DƯƠNG TRẠCH VÀ ÂM TRẠCH KHI LUẬN LONG VẬN

YẾU TỐ: Bản chất tiếp khí

DƯƠNG TRẠCH (NHÀ CỬA): Động, cần thông thoáng, nạp cả Thiên khí lẫn Địa khí.

ÂM TRẠCH (PHẦN MỘ): Tĩnh, ẩn tàng dưới lòng đất, thuần tiếp nhận Địa khí (Chân Long).

YẾU TỐ: Trọng tâm khi tính vận

DƯƠNG TRẠCH (NHÀ CỬA): Kết hợp Long mạch với Hướng nhà và sự vận hành phi tinh theo từng năm của trạch bàn.

ÂM TRẠCH (PHẦN MỘ): Trọng tuyệt đối vào Lai Long nhập thủ và Tọa sơn. Long suy thì tuyệt đối không táng.

YẾU TỐ: Phạm vi tác động

DƯƠNG TRẠCH (NHÀ CỬA): Tu sửa một góc nhỏ có thể dùng phương pháp "động cung cát, tránh cung hung".

ÂM TRẠCH (PHẦN MỘ): Đào huyệt, hạ quan tác động trực tiếp vào cốt lõi mạch huyệt; Long phạm hung sát lưu niên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến toàn thể huyết mạch.

IV/. NGUYÊN TẮC ỨNG DỤNG VÀ HÓA GIẢI KHI BẮT BUỘC PHẢI TU SỬA

Trong thực tế, nhiều công trình hư hại dột nát, mộ phần sạt lở bắt buộc phải xử lý khẩn cấp trong năm Long không đắc vận:

1-   Tu tạo cục bộ (Tránh động căn bản): Chỉ sửa chữa phần mái che, lớp áo ngoài, không đào sâu chạm rễ móng hay can thiệp cốt huyệt.

2-   Khai sơn lập hướng phối Thiên Lộc - Thiên Mã: Chọn ngày giờ (Nhật khóa) hội tụ Quý Nhân, Lộc Tồn, Mã Tinh đến phương Tọa để chế ngự sát khí.

3-   Phép "Vận Khí Di Sơn": Khởi công đào cuốc đầu tiên từ phương vị cát lợi nhất trong công trình (được cát tinh đáo chiếu), sau đó mới chuyển dần vào khu vực cần sửa chữa, hạn chế tối đa việc động chạm trực diện vào phương phạm sát.

Ý nghĩa sâu xa của việc tính Long Vận không nằm ở sự sợ hãi dị đoan, mà là thái độ thuận ứng tự nhiên, hiểu rõ nhịp thở của trời đất để thi công đắc thời, mang lại phúc ấm bền lâu cho gia đình và dòng tộc.

***

Phong Thủy Sư TRẠCH BẰNG – Đt: 0932153031 - Ảnh mh.



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

XEM TỐT XẤU NGÀY GIỜ MẤT CỦA NGƯỜI THÂN

CÁCH TÍNH CAN CHI LỘC MÃ QUÝ NHÂN

XEM NGƯỜI SẮP CHẾT VÀ CÁCH TÍNH BỆNH TẬT NẶNG HAY NHẸ