LUẬN HUYỆT ĐỊA CẦN CĂN CỨ VÀO ĐỊA HÌNH
LUẬN HUYỆT ĐỊA CẦN
CĂN CỨ VÀO ĐỊA HÌNH
***
Trong thuật
phong thủy tầm long tróc huyệt, cổ nhân có câu: “Cương nhu bất tương mông, âm
dương bất tương tế, tắc sinh khí bất tụ”. Địa hình bề mặt vốn là biểu hiện hữu
hình của sinh khí vô hình vận hành bên trong. Muốn tầm được chân huyệt, điều
tiên quyết là phải lấy hình thế thực địa làm căn cứ, xem xét sự biến hóa của âm
dương, cương nhu và sa thủy bao bọc.
1/. NGUYÊN LÝ
PHÂN ĐỊNH CƯƠNG NHU – ÂM DƯƠNG
Địa hình tự
nhiên muôn hình vạn trạng, nhưng quy về gốc chỉ nằm ở hai chữ: Âm và Dương (hay
Cương và Nhu).
-
Thế Cương (Dương/Đột): Núi non dốc đứng, sống đất gồ
cao, sống trâu nhô lên, đất đá cứng cáp. Địa hình này mang khí bộc trực, phát
tán, chủ về động.
-
Thế Nhu (Âm/Oa): Đất thoải, lòng chảo thoai thoải, dải
bình nguyên nhu thuận, cỏ cây tươi nhuận mềm mại. Địa hình này mang khí trầm
tĩnh, lắng đọng, chủ về tĩnh.
Phép tầm huyệt
căn bản nằm ở chỗ “Dương lai Âm thụ, Âm lai Dương thụ”:
-
Long đi dốc đứng, hùng vĩ (cương thế) thì khi kết huyệt
phải tìm chỗ bình hoãn, thoai thoải, mở ra oa hõm (chuyển sang nhu). Đó là
cương biến nhu.
-
Long đi bằng phẳng, nhu thuận dải mỏng (nhu thế) thì
khi kết huyệt lại cần tìm chỗ nhô cao, nổi vầng, nổi đụn tạo thế phù đồ (chuyển
sang cương). Đó là nhu biến cương.
Nếu cương lại
táng vào chỗ cương trực thì phạm vào suy bại, đứt gãy khí mạch; nhu lại táng
sâu vào chỗ trũng thấp ngập úng thì phạm vào khí ẩm, thối nát cốt tủy.
2/. TỨ ĐẠI TƯỢNG
CỦA HUYỆT VỊ ỨNG VỚI HÌNH THẾ
Căn cứ vào thế đất
lõm, lồi, tròn, dài, địa hình phân thành bốn dạng huyệt cơ bản: Oa, Kiềm, Nhũ,
Đột.
OA HUYỆT (HUYỆT
LÒNG CHẢO):
Đặc điểm địa
hình vùng đất trũng thoai thoải, có bờ viền bao quanh như lòng chảo hoặc tổ
chim. Thuộc Âm huyệt.
Cần phân định sâu nông: Oa nông thì tụ khí nhẹ, Oa sâu phải có bờ chắn gió chắn
thủy. Điểm huyệt tại tâm oa nhưng tránh nơi đọng nước úng.
KIỀM HUYỆT (HUYỆT CHÂN KÌM):
Hai dải đất/gò vươn ra ôm lấy một khoảng
giữa, giống như chiếc càng cua hoặc cái mở tiệm. Huyệt kết ở chỗ giao thoa giữa
hai gọng kìm. Gọng kìm phải đều đặn, uốn cong bao bọc; kìm mở quá rộng thì tán
khí, kìm đâm thẳng nhọn hoắt thì mang sát khí.
NHŨ HUYỆT (HUYỆT HÌNH VÚ MẸ):
Từ triền đồi, vách núi thoai thoải rủ xuống
một dải đất tròn trịa, đầy đặn như bầu vú hoặc giọt ngọc. Thuộc Dương huyệt.
Thường kết ở sườn đồi thoai thoải. Yêu cầu hai bên long hổ phải hộ vệ khép kín
để gió không tạt sườn (tránh “nhũ phong xung xạ”).
ĐỘT HUYỆT (HUYỆT GÒ NỔI):
Xuất hiện giữa vùng đất bằng phẳng (bình
dương), đột khởi lên một gò tròn, đụn đất vuông vắn hoặc hình mai rùa. Cổ thư
viết: “Bình dương nhất đột thắng thiên phong”. Giữa đồng bằng mênh mông, nơi
nào hơi nhô cao tụ đất chính là nơi long khí ngưng đọng
3/. CĂN CỨ VÀO TƯƠNG QUAN SA THỦY THỰC TẾ
Địa hình không
chỉ có một điểm huyệt trơ trọi mà luôn gắn liền với hình thế xung quanh:
-
Xem Chỗ Đứng Của Minh Đường: Trước huyệt địa hình phải
bằng phẳng hoặc hơi thoải nhẹ, mở rộng nhưng kín đáo (Nội minh đường tụ khí,
Ngoại minh đường dung nạp vạn mã). Nếu trước mặt địa hình dốc đứng sụt lở (thảng
đầu xạ) thì sinh khí chảy tuột đi mất, khó giữ tài lộc.
-
Xem Thế Long Hổ (Tả Phụ Hữu Bật): Hai bên huyệt phải
có đồi gò ôm bọc. Đồi bên Tả (Thanh Long) nên uyển chuyển, vươn dài; đồi bên Hữu
(Bạch Hổ) nên thuần phục, cúi đầu. Địa hình hai bên nếu khuyết hãm sẽ sinh ra
gió lùa thổi bay linh khí (gọi là "phong sát").
-
Thủy Khẩu & Sa Giới: “Khí thừa phong tắc tán, giới
thủy tắc chỉ”. Nơi huyệt địa tọa lạc phải có dòng nước dẫn khí đến và tụ lại, lối
thoát nước (thủy khẩu) phải quanh co, khuất khúc, có gò đống khóa kín, không để
thấy dòng chảy xộc thẳng ra ngoài.
4/. NHẬN DIỆN NHỮNG
THẾ ĐẤT CẦN TRÁNH KHI ĐIỂM HUYỆT
Khi quan sát địa
hình, người tầm huyệt trước hết phải biết trừ khử các thế đất hung bại:
1-
Thế Thốc (Trọc trọi): Đồi núi trơ trụi, khô cằn, sỏi
đá lởm chởm, cây cỏ không mọc nổi. Đây là đất tử khí, tuyệt đối không kết huyệt.
2- Thế Đoạn (Đứt
gãy): Mạch đất bị đào xới, sạt lở hoặc do nhân tạo xẻ rãnh cắt ngang thân long,
khiến nguyên khí tiêu tán.
3- Thế Thạch (Đá nhọn
hung sát): Đất nhiều đá lởm chởm, sắc nhọn như dao kiếm chĩa vào huyệt vị.
4- Thế Quá (Trôi tuột):
Sườn dốc dựng đứng, nước chảy xiết xối thẳng qua mặt, không có điểm dừng tụ.
5- Thế Độc (Cô độc):
Một gò đống nổi trơ trọi giữa đồng không mông quạnh, tứ phía gió bão thổi lộng,
không có sơn sa che chở.
Thuật tầm huyệt
cốt tủy nằm ở đôi mắt tinh tường nhận diện hình thế: Nhìn xa xem đại thế, nhìn
gần phân biệt âm dương mỏng dày. Địa hình dù biến hóa muôn lối nhưng chân huyệt
bao giờ cũng mang nét tàng phong tụ khí, ấm áp, cỏ cây tươi nhuận, hình thế hữu
tình. Lấy địa hình làm gốc, lấy lý khí bổ trợ, ấy mới là đạo vi diệu của thuật
phong thủy chân chính.
***
Phong Thủy Sư TRẠCH BẰNG – Đt:
0932153031.
Nhận xét
Đăng nhận xét