TÌM HUYỆT ĐỊA PHẢI LUẬN ĐOÁN KỸ CÀNG
TÌM HUYỆT ĐỊA PHẢI
LUẬN ĐOÁN KỸ CÀNG
Nguyên tắc cắm
huyệt
***
Trong lòng đất
bao la, việc tìm được một cuộc đất có long mạch vận hành đã khó, nhưng việc định
vị chính xác điểm kết tụ của sinh khí – gọi là "Cắm huyệt" (Điểm huyệt)
– lại càng đòi hỏi sự tinh vi, cẩn trọng gấp bội. Cổ nhân có câu: "Tầm
long phân minh dễ, điểm huyệt cát hung nan" (Tìm long mạch tường tận thì dễ,
điểm đúng huyệt vị để đón cát tránh hung mới khó). Nếu luận đoán không kỹ càng,
chỉ sai một ly, tất đi một dặm.
I/. TẦM QUAN TRỌNG
CỦA VIỆC LUẬN ĐOÁN KỸ CÀNG TRƯỚC KHI CẮM HUYỆT
Huyệt vị chính
là "chân long tinh hoa tiêu tụ xứ", nơi tụ thục của toàn bộ khí mạch
từ tổ sơn, thiếu tổ sơn truyền dẫn về. Việc luận đoán huyệt địa không thể vội
vàng, mà phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình quán sát tổng thể:
-
Thẩm định Long mạch (Lai long): Phải xem long mạch từ
đâu tới, đi theo thế Thanh Long, Bạch Hổ hay Huyền Vũ, mạch thô hay tế, cứng
hay mềm, là sinh long (long sống, uốn lượn) hay tử long (long chết, thô lậu, thẳng
tuột).
-
Quán sát Sa nhẫn và Thủy tụ: Minh đường phía trước phải
quang đãng, bằng phẳng; thủy tụ trước mặt phải là dòng nước nhu hòa (hướng thụ
thủy, triều thủy), tránh dòng nước xung xạ (thủy phá). Các gò đống xung quanh
(Sa) phải bao bọc, che chở để tụ khí, tránh gió thổi tạt làm tan sinh khí (Tàng
phong đắc thủy).
-
Cân bằng Âm Dương: Huyệt địa phải có sự phối hợp hài
hòa giữa phần động (thủy) và phần tĩnh (long). Đất quá khô (thuần Dương) hay
quá ướt át, sình lầy (thuần Âm) đều không phải là nơi kết huyệt lý tưởng.
II/. CÁC NGUYÊN
TẮC CỐT LÕI KHI CẮM HUYỆT (ĐIỂM HUYỆT)
Khi đã xác định
được khu vực kết huyệt (Huyệt trường), người thầy phong thủy phải áp dụng các
nguyên tắc kinh điển của kham dư học để định vị tâm huyệt.
1/. NGUYÊN TẮC
"THẨM ĐỘ CAO THẤP" (THIÊN - ĐỊA - NHÂN)
Tùy thuộc vào thế
long và hình sa bao bọc xung quanh mà chọn cao độ của huyệt:
-
Thiên huyệt (Huyệt cao): Đặt ở phần trên của thế đất
(khi sa nhẫn xung quanh cao lớn, cần ở cao để đón khí).
-
Địa huyệt (Huyệt thấp): Đặt ở phần dưới gần sát mạch
nước (khi sa nhẫn thấp, bằng phẳng, cần hạ thấp để tàng phong).
-
Nhân huyệt (Huyệt tầm trung): Đặt ở khoảng giữa, là thế
quân bình nhất.
Lưu ý: Tuyệt đối
tránh hai đại kỵ: "Phong lộc" (đặt quá cao bị gió thổi lộng làm tán
khí) và "Thủy kiếp" (đặt quá thấp bị nước ngập, ẩm ướt làm úng thối
sinh khí).
2/. NGUYÊN TẮC
"TÙY HÌNH ĐỊNH VỊ" (TRÁNH HUNG PHÙNG CÁT)
Hình thế của cục
đất quyết định vị trí cắm huyệt. Bản chất của điểm huyệt là tìm nơi "nương
tựa" vững chãi nhất:
-
Huyệt phải nằm ở điểm giao thoa giữa phần lồi và phần
lõm, phần bằng phẳng liền kề phần dốc (nơi mạch dừng).
-
Tránh cắm huyệt trực diện vào các góc nhọn của sa nhẫn
xung quanh chĩa vào (Sát khí).
-
Tránh các vị trí đất bị đứt gãy, sạt lở hoặc lòng đất
có đá ngầm lởm chởm, khô cằn.
3/. NGUYÊN TẮC
"TỤ KHÍ VÀ HƯỚNG TÂM"
Tâm huyệt phải
là tiêu điểm hướng về của tất cả các yếu tố ngoại vi. Khi đứng tại điểm cắm huyệt
nhìn ra:
-
Án sơn (núi gần trước mặt) và Triều sơn (núi xa) phải
như triều bái, chầu về.
-
Tả Thanh Long và Hữu Bạch Hổ phải ôm vòng che chở, tạo
thành thế vòng tay bảo vệ tâm huyệt, giữ cho khí không bị tản mát ra hai bên
hành lang.
III/. CÁC PHƯƠNG
PHÁP CẮM HUYỆT KINH ĐIỂN
Trong thực tiễn
kham dư, tùy vào cục diện của long mạch mà người xưa đúc kết ra các kỹ pháp điểm
huyệt tinh diệu:
|
Kỹ pháp điểm
huyệt |
Đặc điểm nhận
dạng |
Nguyên tắc áp
dụng |
|
Thoái huyệt
(Lùi) |
Long mạch đi
xuống quá mạnh, hung hãn. |
Phải cắm huyệt
lùi lại phía sau, nơi mạch đã giảm bớt sát khí, nhu hòa hơn. |
|
Tiến huyệt (Tiến) |
Long mạch đi tới
còn yếu, sinh khí chưa đủ độ phát lộ. |
Phải cắm dịch
về phía trước để đón đầu sinh khí vừa chớm tụ. |
|
Phù huyệt (Nổi) |
Thế đất vùng đồng
bằng (Bình dương), mạch đi chìm sát mặt nước. |
Huyệt phải
nông, nổi lên trên để tránh nước ngầm làm úng thủy. |
|
Trầm huyệt
(Sâu) |
Thế đất vùng
sơn cước (Sơn cước long), mạch đi sâu trong lòng núi. |
Huyệt phải đào
sâu vào lòng đất để chạm tới "cốt" của long mạch. |
IV/. LỜI KẾT
Cắm huyệt là công việc đòi hỏi sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa nhãn quan tường tận, tri thức phong thủy uyên bác và cái tâm
của người thầy. Đất báu chỉ dành cho người có phước đức. Việc luận đoán kỹ càng
từng tấc đất, dòng nước, ngọn cỏ không chỉ thể hiện sự tôn trọng đối với tự
nhiên, long mạch, mà còn là sự trách nhiệm tối cao đối với sự hưng vong, an lạc
của gia tộc hậu thế.
Chính vì vậy, trước khi hạ la kinh cắm mốc,
người thầy phải đạt đến độ “Tâm minh, nhãn sáng”, cân nhắc mọi biến số âm
dương, thấu suốt lý khí mới mong tìm được chốn vạn niên cát địa.
Phong Thủy Sư TRẠCH BẰNG – Đt: 0932153031 - Ảnh st minh họa.
Nhận xét
Đăng nhận xét