THÀNH HÀ NỘI THỜI NGUYỄN
Giai
đoạn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn
Thành Hà Nội do Gia
Long xây dựng cũng làm theo thể thức các
tỉnh thành khác và điều chủ yếu là không được to rộng hơn Phú Xuân. Thành vuông
xây theo kiểu Vauban
của Pháp. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào
nước sâu. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan
Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam,
đường Hùng Vương ở phía Tây.
Tường thành xây bằng gạch hộp chân
thành xây băng đá xanh và đá ong. Tường cao 1 trượng 1 thước, dày 4 trượng.
Thành mở ra 5 cửa là: cửa Đông (tương ứng với phố cửa Đông bây giờ), cửa Tây
(tương ứng với phố Bắc Sơn hiện nay), cửa
Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam (tương
ứng với đoạn giao phố Chu Văn An và Nguyễn Thái Học bây giờ), cửa Đông Nam
(tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học bây giờ). Đường
vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài 23 m. Trên mỗi cửa có lầu canh gọi là
thú lâu.
Xung quanh tường thành là một dải
đất rộng 6-7m rồi đến một con hào rộng 15–16 m, sâu 5 m thông với sông Tô
Lịch và sông
Hồng. Hào lúc nào cũng có nước nhưng
thường chỉ cao khoảng 1 m.
Phía ngoài các cổng thành có xây một
hàng tường đắp liền trên bờ hào gọi là Dương mã thành, dài 2 trượng 9 thước,
cao 7 thước 5 tấc. Các Dương mã thành đều cố một cửa bên gọi là Nhân Môn. Từ
ngoài thành đi vào đều phải đi qua Nhân Môn rồi mới đến cổng thành. Phía trong
thành được bố trí như sau:
Ở trung tâm thành là điện Kính Thiên
được xây dựng từ thời Lê trên núi Nùng. Điện dựng trên những cột gỗ lim lớn
người ôm không xuể. Thềm điện có hai đôi rồng đá rất đẹp cũng từ thời Lê. Sau
điện này bị người Pháp phá hủy và xây trên nền cũ tòa nhà Con Rồng để làm trụ
sở pháo binh Pháp. Sau năm 1954 nhà con Rồng lại trở thành trụ sở của Bộ Tổng Tham mưu
Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây cũng
chính là nơi diễn ra cuộc họp Bộ chính trị
mở rộng ngày 21 tháng 3
năm 1975 hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 75-76.
Phía tây là kho thóc, kho tiền, và
dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy.
Năm 1835, vì cho răng thành Hà Nội
cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ
còn cao chừng 5 m
Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết
những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.
Các di tích tiêu biểu
Phạm vi di sản thế giới được công
nhận là 20 ha (trên tổng số 140 ha của Hoàng thành) gồm khu khảo cổ ở số 18
đường Hoàng Diệu và khu vực được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ,
Nguyễn Tri Phương,
Phan Đình Phùng
và Hoàng Diệu.
Các di tích tiêu biểu của khu di tích:
Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng
là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao
Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà
Lý và nhà
Trần, tiếp theo là một phần trung tâm
của đông cung nhà Lê
và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà
Nội thế kỷ 19.
Bề mặt Lý-Trần
ở tầng hai có rất nhiều hiện vật được phát hiện, như những nền cung điện, có
kích thước một chiều hơn 60 mét, chiều kia 27 mét. Có 40 chân cột, rồi cả giếng
cổ, gạch, phù điêu. Có tượng rồng, phượng mà được các nhà nghiên cứu mỹ thuật
khẳng định là mô típ hoa văn thời Lý. Rồi đến những tầng lớp bên trên, thời Lê,
Nguyễn đều tìm được nhiều hiện vật. Tổng cộng là ba triệu hiện vật. Khi tiến
hành khai quật ở hố B16 thuộc địa điểm dự kiến xây dựng toà nhà Quốc hội mới,
Viện khảo cổ học đã phát hiện một toà lâu đài 3 tầng lầu, 4 mái, dạng hình tháp
toạ lạc trên một diện tích xấp xỉ 1000 m2 thuộc hệ thống các cung điện Thăng
Long xưa. Theo đánh giá thì đây là công
trình đầu tiên, có tầm cỡ và giá trị nhất được tìm thấy từ trước đến nay. Việc
phát hiện ra lâu đài này được coi là bằng chứng rõ ràng nhất về sự hoành tráng
của kinh thành Thăng Long
từ thời Lý-Trần. Mặc dù trước đây các nhà khảo cổ đã đoán định được di chỉ này
nằm trong khu vực hoàng thành, thậm chí là cấm thành Thăng Long suốt từ thời
Lý, Trần đến Lê nhưng do tiến hành khai quật quá nhanh khiến cho nhiều tầng lớp
kiến trúc không thể hiện rõ.
Giếng nước thời Trần, gạch ghép rất kỹ thuật và kiên cố
Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR,
A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13 trong các lớp đất ở độ sâu trung bình
trên dưới – 1,50 m so với “cốt” cao độ của mặt bậc thềm đá Đoan Môn, xuất lộ
những ô sỏi trộn lẫn đất sét. Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ
khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đã được chọn lọc. Hiện vật
thu được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lý. Các ô sỏi này
thường có hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30 m và ăn sâu xuống các lớp dưới,
dày trên dưới 1,00 m. Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm -
nhồi sỏi cuộn với đất sét. Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các
hiện vật được xác định có niên đại Đinh - Tiền
Lê.
Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong
các hố từ A1 đến A18. Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi, xếp thành 04 hàng dọc (hai
hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây mỗi hàng chỉ có 09 ô).
Có lẽ đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân tảng đá kê dưới chân các
cột. Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là các móng trụ. Kết
quả đo đạc đã giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có bộ khung chịu
lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột. Khoảng cách giữa các cột Quân với các cột Cái
là khoảng 3,00 m. Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6,00 m. Từ Bắc xuống
Nam đã xác định được 10 vì, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian. Tuy
nhiên, chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này còn phát
triển kéo dài về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật. Bước gian của kiến trúc này
rất lớn, khoảng 5,80 m – 6,00 m. Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến
trúc bằng gỗ cổ truyền hiện còn đứng
vững trên mặt đất thường nhỏ hơn.
Chưa lý giải được nguyên nhân của sự
chênh lệch về số lượng các móng trụ của các hàng móng trụ phía Tây nhưng ở đây
chắc chắn đã có 04 móng trụ sỏi gia cố cho 01 chân tảng cột Cái và 03 chân tảng
cột Quân. Khoảng cách giữa hai hàng móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4,1 m chứng
tỏ đây chính là không gian của chái phía Nam. Cách tim của các móng trụ gia cố
chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4,5 m và chạy dài suốt chiều rộng của “toà
nhà nhiều gian” nói trên còn thấy xuất lộ một cống thoát nước được xây-xếp bằng
gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng vôi vữa), lòng cống
rộng 0,17 m – sâu 0,20 m. Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai bên thành của
rãnh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch. Kích thước trung bình của
gạch ở đây là 0,36 m x 0,20 m x 0,05 m). Về phía Đông, sát cạnh cống thoát nước
này là một thềm gạch rộng 0,76 m chạy dọc suốt chiều dài đường cống. Gạch lát
thềm là gạch vuông 0, 38m x 0,38 m x 0,07m. Có chỗ còn lát lẫn cả gạch in hoa.
Một phần của khu di tích 18 Hoàng Diệu.
Cách tim của các móng trụ gia cố
chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2, 5m cũng xuất lộ một cống thoát nước khác.
Dấu vết của cống phía tây bị đứt quãng ở góc Tây Nam “toà nhà nhiều gian”, khu
vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng. Gạch xây-xếp cống thoát nước này là
loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rãnh. Các viên dùng lát
đáy có mặt cắt hình thang cân. Những viên dựng hai bên thành có hình bình hành.
Với hình dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rãnh, đặt các viên gạch chuyên
dụng này xuống là thành cống. Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân
phía nam khoảng 4,5 m lại cũng xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên
dụng tương tự. Các đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam
“toà nhà nhiều gian” nếu còn nguyên vẹn sẽ “bắt” vuông góc chái Tây Nam. Các
đường cống này chính là các rãnh thoát nước mưa của “toà nhà nhiều gian”. Các
cống này đều không có nắp để có thể hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói
lợp cuối cùng của mái. Nghĩa là các rãnh thoát nước mưa này chính là giới hạn
của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo giữa các rãnh thoát nước này cho biết về
chiều rộng và chiều dài của công trình kiến trúc. Khoảng cách từ tim rãnh thoát
nước phía Tây đến tim rãnh thoát nước phía Đông là 17,65 m. Đó chính là kích
thước chiều rộng của “toà nhà nhiều gian” này. Chiều dài của kiến trúc này hiện
chưa khẳng định được. Nhưng nếu giả định “toà nhà nhiều gian” có 09 gian thì
kích thước này sẽ là khoảng 67 m. Theo số đo, phế tích này cho thấy một công
trình kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen. Tuy nhiên chưa thể xác định công
năng của kiến trúc này. Chỉ biết rằng “toà nhà nhiều gian” này chạy dài theo trục
Bắc – Nam, mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây.
Về phía Tây của toà nhà nhiều
gian, cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng cột Quân phía tây 4,
90m, đã tìm thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác. Vật liệu gia cố có phần
đa dạng hơn, ngoài sỏi (tương tự như sỏi ở các hố đã nêu trên) còn có cả ngói
vỡ vụn, được nhồi đầm theo chu kỳ 1 lớp sỏi lại 1 lớp ngói vụn. Hình dạng của
các hố đào cũng khác, có hố tròn (đường kính từ 1,10 m đến 1,30 m), có hố vuông
(1,20 m x 1,20 m). Bố cục của các móng trụ chân tảng này khá đặc biệt: 06 trụ
móng tròn quây quanh một số trụ móng ở chính giữa. Khoảng cách trung bình giữa
tim của các móng trụ tròn là khoảng 1,30 m. Tim móng trụ vuông trùng với tâm
của đường tròn ngoại tiếp hình lục giác, cách tim các móng trụ tròn một khoảng
1,30 m.
Các cụm móng trụ gia cố chân tảng
này trải dài suốt mặt phía tây của toà nhà nhiều gian. Khoảng cách giữa
các cụm (đếm được tất cả 11 cụm), không thật đều, xê xích từ 8 m đến 12 m. Theo
các nhà khảo cổ, một cụm móng trụ gia cố chân tảng như vậy là phế tích của một
kiểu lầu lục giác nhỏ, được dựng nhằm phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn. Theo
GS. Trần Quốc Vượng,
Việt Sử lược có ghi nhận về loại hình kiến trúc này, gọi là các Trà đình. Trong
các hố A19, A20, A20MR và A21 cũng xuất lộ nhiều móng trụ sỏi.
Ngay gần chái phía Nam của toà
nhà nhiều gian thuộc phạm vi hố A19 có một số móng chân tảng nhưng kết quả
đo đạc không xác định được thật rõ ràng về kiến trúc từng tồn tại ở đây. Phía
Bắc hố A20 xuất lộ hai hàng móng trụ sỏi gia cố, mỗi hàng 05 móng trụ, khoảng
cách giữa tim hai hàng là 3,40 m. Hiện trạng và số đo cho phép giả định đây là
một kiến trúc có hướng chạy dài theo trục Đông - Tây (vuông góc với toà nhà
nhiều gian). Số đo bước gian đo được của kiến trúc này theo chiều từ Đông
sang Tây là: 3,30m - 5,45m - 5,30m. Các khoảng cách khác chưa khẳng định được
vì một số móng trụ sỏi đã bị mất và vì kiến trúc này còn tiếp tục kéo dài về
phía Đông, ra ngoài khu vực khai quật. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có lẽ là
phế tích của một toà nhà có 3 gian hai chái. Ở phía Nam hố A20 đã xuất lộ một
cụm phế tích rõ ràng hơn.
Khác với các phế tích vừa mô tả, cụm
phế tích này còn cả chân tảng đá đặt nguyên vị trí (in situ) trên hố gia cố.
Thực tế này đã khẳng định chính xác về công năng của các hố sỏi. Hố gia cố chân
tảng ở đây hình vuông (1,30 m x 1,30 m). Vật liệu gia cố hỗn hợp cả sỏi nhỏ,
gạch, đá vụn. Tất cả còn 09 chân tảng, xếp hàng 04 hàng. Theo trục Đông - Tây,
các chân tảng cách đều nhau một khoảng 5,75 m.
Các chân tảng đều được làm bằng sa
thạch (grès) màu xám. Mặt chân tảng chạm cánh sen mang phong cách nghệ thuật
Lý. Đường kính trong của vành hoa sen này là 0,49 m. Trên mặt nhiều chân tảng
còn rất rõ dấu vết cho biết cột gỗ dựng trên đó có đường kính 0,43m. Tuy nhiên
ở vị trí sẽ đặt xà ngưỡng, mặt tảng để trơn, không chạm cánh sen. Nối dài hai
bên (đông, tây) một số chân tảng cũng còn giữ nguyên một số viên gạch (0,38m x
0,15 m x 0,11 m) của hàng gạch đỡ dưới xà ngưỡng. Với dấu vết của các xà ngưỡng
này cho thấy có lẽ đây là hai kiến trúc dạng hành lang, chạy dài theo Đông -
Tây. Đặc biệt, cụm phế tích này còn giữ nguyên vẹn một số đoạn thềm hiên lát
gạch ở phía ngoài xà ngưỡng, rộng trên dưới 1, 00m tính từ tim chân tảng. Thềm
gạch này được xây xếp bởi 8 hàng gạch (0,39 m x 0,20m x 0,05 m) cao hơn mặt sân
0,36 m. Sân gạch chạy giữa hai hành lang này được lát gạch vuông (0,38 m x
0,38m x 0,06 m). Theo các nhận định ban đầu cho rằng các phế tích kiến trúc ở
phía Bắc khu A là của một tổ hợp kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau, bao
gồm: một tòa nhà nhiều gian có chiều rộng 17,65 m, chạy dài ít nhất 09
gian (khoảng 67 m) và một dãy các lầu lục giác. Điều đáng quan tâm là sự
liên hệ, tiếp nối giữa các kiến trúc này. Hiện trường còn rất rõ một số mảng
nền lát gạch vuông (0,38 m x 0,38m x 0,08 m), nối liền từ mép rãnh thoát nước
phía Tây tòa nhà nhiều gian với các lầu lục giác.
Chiều rộng của nền gạch này đo được
2,60 m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát
vào hàng gạch chữ nhật (0, 39 m x 0,18 m x 0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt
nền của lầu lục giác.
Gạch làm bằng đất nung trang trí hoa cúc
Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch
vuông này, các nhà khảo cổ nhận định khả năng tòa nhà nhiều gian và các lầu
lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.
Về niên đại: Để định niên đại cho
các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, các nhà khảo cổ dùng phương án đối
chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng. Trước hết các
nhà khảo cổ tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như đã
trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ.
Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự
như chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương
Sơn (Nam Định)...
Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch
nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0,39 m x 0,18 m x
0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.
Đồng thời tại khu vực hố A20 có khá
nhiều các di vật lá đề và gốm sứ thời Lý. Các loại gạch có thềm hiên nhà đều
còn nguyên vẹn và dáng hình, sắc màu đều giống hệt như các viên gạch xây các
tháp Lý vừa dẫn. Từ các dẫn liệu trên đây chúng tôi tin rằng đây là dấu tích
kiến trúc của thời Lý.
Niên đại này được củng cố khi so sánh mặt bằng của hai kiến trúc này là tương
đương với địa tầng chuẩn Lý - Trần ở Đoan Môn đều ở độ sâu khoảng 2 m. Khi đó
có các móng trụ có niên đại tương đối ta có thể so sánh tìm hiểu niên đại của
các móng trụ khác. Ta sẽ thấy, móng trụ sỏi ở kiến trúc nhiều gian, ở lầu
lục giác giống hệt về kỹ thuật, vật liệu, kích thước với các trụ móng sỏi
Lý ở khu A20.
Về địa tầng các trụ móng đó cùng độ
sâu 1,80 m - 2,20 m với các kiến trúc ở A20, tức là đều nằm trong khoảng niên
đại khoảng thời Lý. Hơn nữa xét về mặt kỹ thuật xây dựng, các móng trụ ở đây
cũng đều thuộc kỹ thuật của thời Lý và thời
Trần. Trong thời Lý, kỹ thuật gia cố sỏi
đặc biệt thấy rõ ở chùa Lạng (Hưng
Yên), tháp Chương Sơn (Nam Định), tháp
Phổ Minh (Nam Định).
Các trụ móng sỏi ở thời Lý thường
được gia cố rất chặt chẽ. Điều này khác với các trụ móng sỏi thời muộn hơn (có
thể là thời Lê), có gia cố sỏi nhưng sơ sài hơn rất nhiều và ở độ sâu cao hơn.
Nói cách khác các trụ móng sỏi Lê nằm ở mặt bằng cao hơn mặt bằng Lý - Trần.
Hơn nữa, như đã nói trên, phủ trên mặt bằng của khu vực của các trụ móng thời
Lý là một lớp di vật có niên đại Lý nên có thế tin rằng hầu hết các trụ móng ở
đây đều thuộc thời Lý. Điều này còn được khẳng định thêm khi phát hiện một hồ
nước cổ hình chữ nhật phía Nam khu kiến trúc nhiều gian bị lấp đầy vật
liệu Lý, Trần. Điều này chứng tỏ hồ nước này đã bị lấp trong thời Trần. Hồ nước
này đả phá vào móng kiến trúc lầu lục giác và một phần móng trụ của
'kiến trúc nhiều gian. Các nhà khảo cổ cho rằng hồ này được đào vào đầu thời
Trần và bỏ đi vào khoảng cuối thời Trần. Do đó ta cũng thấy các trụ móng sỏi đã
xuất lộ ở cùng mặt bằng đều thuộc thời Lý.
Kiến trúc cổ truyền Việt là các công
trình có hệ chịu lực bằng khung gỗ, với cấu kiện cơ bản là hệ thống cột. Vì
vậy, người Việt chỉ chú trọng gia cố nền mà không cần đến móng. Sức nặng của
công trình được phân tán qua hệ cột nên chân các cột đá được gia cố bằng các
chân tảng đá có kích thước lớn gấp nhiều lần đường kính cột. Hiện trạng khảo cổ
học (tầng văn hoá, hiện vật) và kết quả khảo sát địa chất khu vực này cho phép
khẳng định có một dòng chảy cổ (theo hướng Bắc - Nam) ở phía Tây các phế tích
nói trên. Nền đất tự nhiên chịu tải kém nên các công trình kiến trúc ở đây đều
có hệ thống hố gia cố chân tảng. Đây là một thành tựu, một tiến bộ kỹ thuật của
người Việt trong xây dựng. Với khảo cổ học kiến trúc (hay khảo cổ học đô thị),
các phế tích nói trên còn cung cấp những hiểu biết mới, có tính chất lý thuyết
về việc gia cố chân tảng, về cách thức xác định kích thước - quy mô của một
kiến trúc qua các dấu vết của phế tích. Kỹ thuật này đã được thấy ở cố đô Hoa Lư
thời Đinh - Tiền
Lê. Ở kỹ thuật xây trụ móng được thực
hiện bằng các móng bè bằng gỗ lim cao 5 lớp kết hợp với lớp móng trụ đá ở bên
trên. Đến thời Lý và thời Trần, kỹ thuật này bây giờ xử lý hoàn toàn bằng sỏi
và gạch vụn, sành vụn. Móng trụ bằng sỏi thời Lý và thời Trần có quy mô và chắc
chắn nhất trong lịch sử kiến trúc Việt
Nam.
Các phế tích kiến trúc ở khu A còn
cần được nghiên cứu kỹ hơn. Kiến giải của các nhà khảo cổ về một số phế tích
chỉ là những nhận định ban đầu. Tuy chưa thể khẳng định về quy mô và công năng
của tất cả các công trình nhưng rõ ràng các phế tích này cho thấy một quần thể
kiến trúc toà ngang dãy dọc khá phong phú. Dung mạo của một bộ phận Hoàng Thành
Thăng Long xưa đã hiển hiện qua dấu vết vật chất chứ không chỉ là hình ảnh của
sách vở, chữ nghĩa. Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc,
một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung
qua nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một
cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung
Thăng Long qua các triều đại.
Cột cờ Hà Nội
Bài
chi tiết: Cột cờ Hà Nội
Cột cờ Hà Nội trên một tấm bưu thiếp đầu thế kỷ 20
Cột cờ Hà Nội là di tích được xây
dựng năm 1812 dưới triều Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vô-băng (Vauban). Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh.
Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và gồm 3 cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa
văn bao quanh. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía
Đông và mặt phía Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa
hướng Đông và Tây. Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên
"Nghênh húc" (Đón ánh nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắng
phản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng)…) và từ cạnh dưới lên
tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang.
Nhân dân có bài thơ mô tả về Cột cờ
Hà Nội:
Kỳ đài năm thước vút trời cao
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!
Thông đạt trong tâm có đường vào
Trong sáng muôn nơi dồn cả lại
Trung tâm thiên hạ đẹp biết bao!
Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
Đoan Môn
Đoan Môn khoảng 1884-1885
Đoan Môn ngày nay vẫn còn nguyên vẹn
Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào
điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn
khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng
sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan
Môn đã tìm thấy “lối xưa xe ngựa” thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý. Nếu
khai quật tiếp, sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở
phía Bắc và cửa Tây Nam thành Hà Nội.
Điện Kính Thiên
Điện Kính Thiên là di tích trung
tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh lịch sử của thành cổ Hà
Nội. Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung
tâm của khu di tích. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội,
phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ.
Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Phía nam nền điện còn
có hàng lan can cao hơn một mét. Mặt trước, hướng chính nam của điện Kính Thiên
xây hệ thống bậc lên bằng những phiến đá hộp lớn. Thềm điện gồm 10 bậc, 4 rồng
đá chia thành 3 lối lên đều nhau tạo thành thềm rồng. Bốn con rồng đá được tạo
tác vào thế kỷ 15 thời nhà
Lê. Điêu khắc rồng đá điện Kính Thiên
là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu
khắc thời Lê sơ.
Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm
lượn ra sau, miệng hé mở, ngậm hạt ngọc. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần
về phía nền điện ở trên. Trên lưng rồng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa. Hai thành bậc ở hai bên thềm điện là hai khối đá chạy dài,
chính là hai con rồng được cách điệu hoá. Nền điện Kính Thiên và đôi rồng chầu
đã phần nào phản ánh được quy mô hoành tráng của điện Kính Thiên xưa.
Điện Kính Thiên Năm 1886
Năm Ất hợi 1879 khi Trương Vĩnh Ký
ra Hà Nội ông có vào điện Kính Thiên xem qua và kể lại trong Chuyến đi Bắc
Kỳ năm Ất hợi. Dù trong thời buổi suy tàn đó khi quân Pháp đã đánh chiếm
thủ phủ Bắc Kỳ
những cột gỗ lim
theo bản tường trình tả có tầm vóc rất lớn, chu
vi bằng một người ôm. Những điện đài
phía sau điện Kính Thiên lúc đó đã hư hại nhiều nhưng vẫn để lại ấn tượng cho
người khách Nam Kỳ.
Nhà D67
Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ
quốc phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch
sử đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu
Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh
cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến
dịch Hồ Chí Minh.
Phòng họp Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương trong hầm ngầm
D67
Khu hầm lớn nhất nằm dưới khoảng sân
nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương
gọi là hầm D67. Hai đường dẫn xuống hầm bắt nguồn từ hai phòng làm việc của
tướng Giáp và tướng Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang
bêtông, trát đá granite. Đi sâu xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành
dinh ngầm gồm bốn phòng rộng 50m2, chung một hành lang bên phải. Phòng họp hình
chữ nhật toàn khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên dành cho ban
thư ký và phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ thống thông
hơi, lọc khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống của
hai đường hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12 cm, có
nhiều tay nắm và hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.
Toàn bộ hệ thống hầm ngầm đều liên
hoàn đường điện máy phát. Hệ thống thông tin, liên lạc, hậu cần, lương thực…
đều đầy đủ. Đầu ra của hai cửa hầm này dẫn lên phòng làm việc của hai đại tướng
tại nhà con rồng. Ngoài hệ thống hầm ngầm này, khu A thành cổ còn nhiều hệ
thống hầm ngầm khác. Riêng những bộ phận đã được bàn giao cho ban quản lý thành
cổ là bốn khu hầm. Ngoài hầm của Bộ Chính trị vừa nói còn có hầm trước cửa nhà
“con rồng” (dưới nền điện Kính Thiên), hầm gần khu làm việc của Cục Tác chiến và
hầm của Ban cơ yếu có qui mô nhỏ hẹp, đơn giản hơn nhưng cũng chống được bom và
tên lửa hạng nặng.
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết:
những năm 1965- 1966 Mỹ bắn phá miền Bắc, Bộ Tổng tham mưu lập kế hoạch bảo đảm
an toàn cho cơ quan đầu não tại thành cổ với ba mức: báo động, xuống hầm và di
tản. Hệ thống hầm ngầm sẽ được sử dụng ở mức báo động 2. Ông kể: "Nhiệm vụ
thiết kế, xây dựng nhà, hầm được giao cho Bộ tư lệnh Công binh. Một số bộ phận
như máy thông hơi, lọc khí, cửa sắt, điện đài… được nhập khẩu từ Liên Xô.
Khoảng 300 cán bộ từ nhiều trung đoàn chuyên môn được huy động đào, xây
hầm."
Hằng đêm, vào giờ giới nghiêm, thắp
điện làm việc trong sự canh phòng cẩn mật. Hệ thống nhà, hầm được xây dựng sáu
tháng thì hoàn tất. Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương dời địa điểm làm việc từ
nhà “con rồng” xuống nhà D67. Thời kỳ Mỹ ném bom thỉnh thoảng Bộ Chính trị mới
phải làm việc dưới hầm ngầm.
Tại hầm ngầm dành riêng cho Cục Tác
chiến trong thành cổ Hà Nội hôm nay vẫn còn rất nhiều máy điện thoại thời
chiến.
Hậu Lâu
Khung cảnh Hậu Lâu xưa
Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc lâu) là một
toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc điện Kính Thiên là hành cung của thành cổ Hà
Nội. Tuy ở sau hành cung nhưng lại là phía bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên
bình phía bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc lâu và còn có tên là Hậu
lâu (lầu phía sau), hoặc là lầu Công chúa do cho rằng đây là nơi nghỉ ngơi của
các cung nữ trong đoàn hộ tống vua Nguyễn ra ngự giá Bắc thành.
Cửa Bắc
Bài
chi tiết: Cửa Bắc (Thành Hà Nội)
Cửa
Bắc nhìn từ bên ngoài
Cửa
Bắc bên trong
Cửa
Bắc bên ngoài vào năm 2009.
Tên Hán Việt là Chính Bắc Môn (正北門), là một trong năm cổng của thành Hà Nội thời Nguyễn. Khi
Pháp phá thành Hà Nội họ giữ lại cửa Bắc vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo
thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882 khi Pháp hạ thành Hà Nội
lần thứ hai. Ngày nay trên cổng thành là nơi
thờ hai vị tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương
và Hoàng Diệu.

3.jpg)
4.jpg)







Nhận xét
Đăng nhận xét